Câu hỏi: Anh trai tôi hiện đang định cư bên nước ngoài, bố mẹ tôi mất có để lại tài sản là một ngôi nhà cho anh ấy.
Xin hỏi Luật sư anh trai tôi có thể hưởng thừa kế nhà đất không?
(Mai Anh Thư, Tp. Hồ Chí Minh.
Xem thêm các tư vấn luật sau:
>> Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
>> Thủ tục khai nhận thừa kế, đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà

Trả lời:
Căn cứ vào quy định tại Điều 26 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất đai năm 2003, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau thì được tại Việt Nam:
1.Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam;
2.Người có công đóng góp với đất nước;
3. Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước;
4.Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;
5.Các đối tượng khác theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc một trong các đối tượng nói trên đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ 3 tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.
Theo đó, nếu anh trai chị thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì anh trai chị có thể về Việt Nam làm thủ tục khai nhận thừa kế và đăng ký quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà anh trai chị được hưởng thừa kế. Nếu anh trai chị chưa có điều kiện về Việt Nam thì anh trai chị có thể ủy quyền cho người khác thay mặt để thực hiện các công việc nói trên.
Trường hợp anh trai chị không thuộc một trong các đối tượng nói trên thì quyền lợi của anh trai chị được pháp luật quy định như sau:
Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng nói trên nếu được nhận thừa kế nhà đất sẽ không được cấp Giấy chứng nhận, nhưng được phép chuyển nhượng hoặc tặng cho nhà và quyền sử dụng đất thừa kế. Cụ thể như sau:
- Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trình tự, thủ tục chuyển nhượng thực hiện theo quy định tại Điều 148 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại khoản 6 Điều 113 của Luật Đất đai và khoản 2 Điều 126 của Luật Nhà ở; trình tự, thủ tục tặng cho thực hiện theo quy định tại Điều 152 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;
- Trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để cập nhật vào sổ địa chính và theo dõi.
Liên hệ ngay để được hỗ trợ pháp lý kịp thời!
CÔNG TY LUẬT THÁI AN
Đối tác pháp lý tin cậy
