Câu hỏi: Vợ chồng tôi cần vốn kinh doanh nuôi tôm, nay muốn vay vốn ngân hàng. Khi chuẩn bị làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì gặp rắc rối bởi cần có chữ ký của các thành viên trong hộ, kể cả người đang công tác xa… Ngoài ra, có một thành viên trong sổ hộ khẩu mà vợ chồng tôi cho nhập nhờ lại không đồng ý… Chúng tôi được giải thích là vì chủ sử dụng đất là “Hộ gia đình”?
Xin luật sư Công ty luật Thái An giải thích: Pháp luật quy định thế nào về hộ gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ)? Thành viên nhập nhờ hộ khẩu có quyền ngăn cản việc thế chấp của chủ hộ không?
Xem thêm các tư vấn luật sau:
>> Thủ tục khai nhận thừa kế đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
>> Hoàn trả di sản thừa kế
>> Đất thuộc diện quy hoạch không được cấp sổ đỏ

Về câu hỏi của bạn luật sư công ty luật Thái An xin tư vấn như sau:
Theo qui định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 106, Điều 108 và Điều 109), hộ gia đình gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật qui định. Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dận sự; Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập; Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ 15 tuổi trở lên đồng ý.
Điều 43 khoản 3 mục b của Nghị định 181 thi hành Luật Đất đai qui định: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình thì giấy chứng nhận chỉ ghi tên chủ hộ”.
Tại khoản 2 Điều 146 Nghị định nêu rõ, khi thế chấp phải được các thành viên trong hộ ký hoặc ủy quyền theo luật định.
Mặc dầu vậy, căn cứ vào giấy tờ gì, dựa vào tiêu chí nào để xác định các thành viên trong hộ gia đình thì lại chưa có qui định cụ thể. Trong khi đó, các giao dịch dân sự mà chủ tài sản là hộ gia đình chiếm tỷ lệ không nhỏ, nên việc công chứng các giao dịch đó gặp nhiều khó khăn.
Xin lưu ý: Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dân sự nêu tại Điều 106 ở trên không thể đồng nghĩa hoàn toàn với hộ gia đình ghi trong sổ hộ khẩu gia đình.
Quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng trong hộ gia đình được Bộ luật Dân sự quy định liên quan đến yếu tố về quyền thừa kế tài sản và nghĩa vụ dân sự của những người trong một gia đình. Còn sổ hộ khẩu gia đình được sử dụng cho việc đăng ký để quản lý nhân khẩu thường trú của hộ gia đình. Việc đăng ký hộ khẩu thường trú có biến động do chuyển khẩu, tách hộ, nhập hộ…Vì vậy, những người được chủ hộ cho phép nhập hộ khẩu (có thể nói là ở nhờ) không liên quan đến yếu tố gia đình, huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng. Bởi vậy, những người này không có quyền ngăn cản việc chủ hộ định đoạt phần tài sản của mình.
Xem thêm các tư vấn luật sau:
>> Thủ tục khai nhận thừa kế đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
>> Hoàn trả di sản thừa kế
>> Đất thuộc diện quy hoạch không được cấp sổ đỏ

Về câu hỏi của bạn luật sư công ty luật Thái An xin tư vấn như sau:
Theo qui định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 106, Điều 108 và Điều 109), hộ gia đình gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật qui định. Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dận sự; Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập; Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ 15 tuổi trở lên đồng ý.
Điều 43 khoản 3 mục b của Nghị định 181 thi hành Luật Đất đai qui định: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình thì giấy chứng nhận chỉ ghi tên chủ hộ”.
Tại khoản 2 Điều 146 Nghị định nêu rõ, khi thế chấp phải được các thành viên trong hộ ký hoặc ủy quyền theo luật định.
Mặc dầu vậy, căn cứ vào giấy tờ gì, dựa vào tiêu chí nào để xác định các thành viên trong hộ gia đình thì lại chưa có qui định cụ thể. Trong khi đó, các giao dịch dân sự mà chủ tài sản là hộ gia đình chiếm tỷ lệ không nhỏ, nên việc công chứng các giao dịch đó gặp nhiều khó khăn.
Xin lưu ý: Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dân sự nêu tại Điều 106 ở trên không thể đồng nghĩa hoàn toàn với hộ gia đình ghi trong sổ hộ khẩu gia đình.
Quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng trong hộ gia đình được Bộ luật Dân sự quy định liên quan đến yếu tố về quyền thừa kế tài sản và nghĩa vụ dân sự của những người trong một gia đình. Còn sổ hộ khẩu gia đình được sử dụng cho việc đăng ký để quản lý nhân khẩu thường trú của hộ gia đình. Việc đăng ký hộ khẩu thường trú có biến động do chuyển khẩu, tách hộ, nhập hộ…Vì vậy, những người được chủ hộ cho phép nhập hộ khẩu (có thể nói là ở nhờ) không liên quan đến yếu tố gia đình, huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng. Bởi vậy, những người này không có quyền ngăn cản việc chủ hộ định đoạt phần tài sản của mình.
Công ty Luật Thái An hân hạnh giới thiệu dịch vụ làm sổ đỏ tại đường link này:
https://luatthaian.vn/ca-nhan/tu-van-luat-dat-dai/xin-cap-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat/
Và dịch vụ tách sổ đỏ tại đường link này:
https://luatthaian.vn/ca-nhan/tu-van-luat-dat-dai/dich-vu-tach-so-do/
