NULL

Kiến thức pháp luật 1022 Lượt xem

Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: nét đặc thù của pháp lý Á đông

Nhật bản có ảnh hưởng từ nền pháp luật đương đại và hệ thống tư pháp của Châu Âu hàng thế kỷ trước. Đất nước này cũng đã tiến hành tự do hoá hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhà nước pháp quyền trong quá trình dân chủ hoá hàng nửa thế kỷ trước đây.

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN

1. Những đặc thù của xã hội Nhật bản và phương thức giải quyết tranh chấp thương mại truyền thống.

Nhật bản có ảnh hưởng từ nền pháp luật đương đại và hệ thống tư pháp  của Châu Âu hàng thế kỷ trước. Đất nước này cũng đã tiến hành tự do hoá hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhà nước pháp quyền trong quá trình dân chủ hoá hàng nửa thế kỷ trước đây. Tuy nhiên, người dân thường tại Nhật bản coi  pháp luật không hẳn là công cụ để giải quyết tranh chấp, mà là công cụ của Chính phủ, hoặc thậm chí là công cụ của nhà cầm quyền sử dụng để trừng phạt, như pháp luật của Trung quốc trước đây mà Nhật bản đã du nhập từ hồi cổ xưa. Nhật bản là đất nước thuần nhất về văn hoá, chủng tộc và chịu ảnh hưởng của đạo Khổng từ hơn một nghìn năm trước đây. Người dân Nhật bản chia sẻ cho nhau nhiều giá trị và hiểu nhau dễ dàng hơn người Mỹ - một đất nước được mô tả như một cái hũ chứa đựng mọi chủng tộc khác nhau.  Giá trị đạo đức được đặc biệt chú trọng tại Nhật bản hơn bất kỳ quốc gia  nào. Một lời xin lỗi cá nhân,  hay sự thể hiện lòng thông cảm,  thay bằng sự khẳng định độc đoán rằng vấn đề này là đúng, có thể ngăn được một tranh chấp thực sự, hoặc có thể làm đơn giản hoá việc giải quyết tranh chấp.   Pháp luật, vì thế  chỉ là hình thức[1], được coi là  “tatemae” (ý tưởng không thực tế, không tưởng) trong việc thiết lập những chuẩn mực và nguyên tắc pháp lý.[2]Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại một cách hoàn toàn không hình thức tại Nhật bản là ở chỗ, người dân nước này thường cố tránh  hình thức giải quyết tranh chấp tại Toà án và thay vào đó là giải quyết bằng hoà giải, hay bằng một phương thức không có sự can thiệp của bên thứ ba. [3]Điều này thể hiện ở tỉ lệ rất thấp các vụ kiện tụng, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp hành chính mà Chính phủ là bị đơn,[4]và một mặt, theo đó, là quan điểm tự kiềm chế của Toà án, đối với các vụ kiện hành chính. Nói một cách khác,  quan niệm về pháp quyền của các cơ quan tư pháp còn hạn chế cả về số lượng cũng như chất lượng, và Toà án thông thường là rất hạn chế trong việc can thiệp vào các nhánh hành pháp và lập pháp. Ví dụ, năm 1997, tỉ lệ các vụ giải quyết tranh chấp tại Toà án của Nhật bản chỉ bằng 1/6 của nước Anh hoặc xứ Wales.Còn trước đó, năm 1990, tỉ lệ này còn thấp hơn, chỉ bằng 1/10 tại nước Anh và 1/15 của nước Đức.  

Khuynh hướng trên ít nhiều được tìm thấy trong cộng đồng kinh doanh. Mặc dù chưa làm rõ được những sự khác nhau trong vấn đề so sánh pháp lý nhân loại học, thì các doanh nhân nước ngoài cũng nên thức tỉnh rằng, thực tiễn giải quyết tranh chấp của Nhật bản rất khác so với ở nước họ. Tranh chấp thương mại thường trước tiên được giải quyết trong khuôn khổ những quan hệ nhất định: ví dụ, tập đoàn gia đình hay dòng họ, quan hệ kinh doanh và  quan hệ  với các bộ điều hành. Các quan hệ này hình thành nên một chiến lược kinh doanh được điều hành bởi chính sách của các bộ, bao gồm cả việc ngăn ngừa tranh chấp, và các kênh giải quyết thông qua cách tiếp cận nhất quán bằng tin tưởng lẫn nhau[5]đang tồn tại trong các quan hệ gần gũi, ví dụ như những nhóm tập đoàn kinh doanh.  Nói cách khác, tranh chấp thương mại thường được giải quyết không phải tại Toà án, mà là trong Câu lạc bộ, trước hết là thông qua phương thức thương lượng lẫn nhau. Trong trường hợp không tự thoả thuận được, thì doanh nhân Nhật bản sử dụng phương thức hoà giải (thông thường là hoà giải không chính thức), hoặc thông qua phương thức trọng tài hay Toà án.

2. Ảnh hưởng của biến đổi xã hội tới các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

Trình tự  giải quyết các vụ tranh chấp thương mại tại Toà án được quy định chung trong Bộ luật về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1890. Đây là Bộ luật hiện đại đầu tiên về Tố tụng Dân sự của Nhật bản trong thời Minh trị. Bộ Luật này được mô phỏng theo hình mẫu của Bộ luật Đức. Sau đó, Bộ luật này được sửa đổi về nội dung năm 1926, học tập những quy định của Bộ luật Áo năm 1895 nhằm tăng cường vai trò của các thẩm phán, theo chi phí của các bên.[6]Sở dĩ có điều này là vì xã hội Nhật bản lúc đó thiếu các điều kiện để đảm bảo quyền tự quản của các bên, và việc Toà án trì hoãn các vụ án trở nên rất nghiêm  trọng .[7]Tuy nhiên, từ sau Thế chiến II, cùng với sự ra đời của Hiến pháp mới, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hiến pháp Mỹ, hệ thống xét xử của Nhật bản lại một lần nữa có những biến động mới. Pháp luật Nhật bản cũng đã tiếp cận và  chịu ảnh hưởng của hệ thống tranh tụng của hệ thống  pháp luật Mỹ với việc đề cao nguyên tắc thuộc hệ thống xét xử đối kháng. Theo quy định mới của pháp tố tụng dân sự, quyền đương nhiên được kiểm tra nhân chứng của Toà án trước kia đã bị bác bỏ và thay vào đó là hệ thống kiểm tra chéo do các bên đương sự tiến hành. Với những thay đổi tích cực đề cao trách nhiệm của các bên đương sự trong quá trình xét xử, sử dụng tích cực các thủ tục tiền xét xử …., pháp luật Nhật bản , vì thế được phát triển theo hướng ngày càng dân chủ hoá hơn.[8]

Tuy cũng đã qua nhiều lần sửa đổi, nhưng sự chậm trễ, không hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp của các Toà án Nhật vẫn luôn là vấn đề bị chỉ trích. Từ năm 1980 trở đi, các Toà án Nhật đã bắt đầu có những nỗ lực cần thiết để tăng cường hiệu quả của Toà án, trong khuôn khổ của Bộ luật về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Vào năm 1990, Hội đồng lập pháp (trực thuộc Bộ Tư pháp) của Nhật đã bắt đầu xem xét, rà soát lại Bộ luật này, dựa trên những kết quả thực tiễn của quá trình cải cách từ những năm 80.

Bộ luật Tố tụng dân sự được ban hành ngày 18 tháng 6 năm 1996 (Bộ luật số 109 năm 1996) cùng với những quy định mới về tố tụng dân sự do Toà án tối cao ban hành ngày 17 tháng 12 năm 6, đã có hiệu lực vào tháng 1 năm 1998. Bộ luật Tố tụng Dân sự này đã gần như thay thế toàn bộ Bộ luật cũ năm 1890.

So với thời gian trước, thì từ năm 1990 trở lại đây, tỉ lệ giải quyết tranh chấp tại Toà án đã tăng dần lên rõ rệt. Tới năm 1997, tỉ lệ này đã tăng gấp đôi so với năm 1990. Theo kết quả những lần khảo sát gần đây của một hiệp hội kinh doanh, thì các công ty Nhật bản đã lường trước được sự gia tăng của các vụ tranh chấp, và họ lại ngày càng ưa chuộng hình thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án.

Tuy nhiên, như trên đã nói, về bản chất, Nhật bản là một dân tộc thuần nhất, hoà hợp. Người dân Nhật bản vốn rất né tránh việc giải quyết các bất đồng của họ một cách công khai, chính thức. Mọi hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba, đều là yếu tố cần cân nhắc trong xã hội Nhật bản. Chính vì vậy, khi tranh chấp thương mại xảy ra, phương thức mà các doanh nhân Nhật bản ưa chuộng lựa chọn nhất, vẫn là các biện pháp ngoài Toà án, như thương lượng, hoà giải và sau đó là trọng tài hay Toà án. Ngoài ra, với các khiếu kiện hành chính liên quan đến hoạt động thương mại, theo quy định của pháp luật, các doanh nhân có thể đưa ra giải quyết tại Toà án. Ở Nhật không có Toà hành chính chuyên trách như ở Việt Nam. Mọi vụ khiếu kiện hành chính phải được đưa ra Toà án có thẩm quyền (Toà giản lược hoặc Toà cấp Quận) giải quyết. Nếu không đồng tình với bản án của các Toà án này, các bên có thể đưa đơn kháng án lên Toà án cấp cao, rồi Toà án tối cao để giải quyết. Tuy nhiên, riêng với các khiếu kiện hành chính liên quan đến hoạt động thương mại, không thể không nhắc đến phương thức giải quyết không chính thức vốn được ưa chuộng của giới doanh nhân, trước khi đưa vụ việc ra giải quyết tại Toà án, đó là thông qua Văn phòng thanh tra thương mại và đầu tư. Quyết định của cơ quan này không có tính pháp lý, tuy nhiên, với tính chất là những kiến nghị được đề xuất trên cơ sở quan điểm công khai của các chuyên gia, nó cũng có những ảnh hưởng nhất định với cơ quan Nhà nước là đối tượng của khiếu nại liên quan.

Nghiên cứu dưới đây sẽ tập trung làm sáng tỏ thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại bằng Toà án và ngoài Toà án (ADR - thương lượng, hoà giải và trọng tài), cũng như giới thiệu cụ thể một số thiết chế giải quyết tranh chấp với chức năng cung cấp các dịch vụ thương lượng, hoà giải, trọng tài, hoà giải  tại Nhật Bản. 

II. CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN

Dưới đây là một số điểm nổi bật trong giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm cả tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế:

1.Thủ tục xét xử tại Toà án:

Sơ đồ hệ thống Toà án của Nhật bản như sau :

image

Nhật bản áp dụng chế độ 2 cấp xét xử : Cấp sơ thẩm và Cấp phúc thẩm.

Toà án cấp sơ thẩm bao gồm: Toà rút gọn, Toà gia đình và Toà cấp quận. Toà gia đình chuyên trách giải quyết các tranh chấp liên quan đến hôn nhân và gia đình và người chưa thành niên. Toà rút gọn giải quyết các kiện tụng dân sự hoặc hành chính mà giá trị vụ việc không vượt quá 900.000 Yên Nhật; hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo bị phạt tiền hoặc bị phạt không quá 15 ngày tù [9]. Toà cấp quận giải quyết sơ thẩm tất cả các vụ việc dân sự, hình sự, hành chính mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của 2 toà kể trên.

Toà án có quyền phúc thẩm bao gồm: Toà cấp quận, Toà Phúc thẩm và Toà án tối cao. Toà cấp quận có thẩm phúc thẩm chỉ đối với bản án sơ thẩm dân sự của Toà rút gọn , trong khi đó Toà Phúc thẩm có quyền phúc thẩm đối với bản án của Toà án quận, Toà Gia đình  và bản án hình sự sơ thẩm của Toà rút gọn. Toà án tối cao có quyền phúc thẩm đối với các bản án của Toà Phúc thẩm. Trường hợp ngoại lệ , nếu như trong một vụ án dân sự được giải quyết ở Toà cấp quận , nếu như cả 2 bên đều đồng ý bỏ qua kháng cáo lên Toà Phúc thẩm mà kháng cáo trực tiếp lên Toà tối cao thì Toà tối cao có quyền phúc thẩm bản án của Toà án quận.

Nhật bản có 50 Toà cấp quận và Toà Gia đình nằm ở các trung tâm hành chính của tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương, 438 Toà rút gọn đặt ở các địa phương , và 8 Toà Phúc thẩm đặt ở 8 thành phố lớn như Tokyo, Osaka , Nagoya , Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo và Takamastu. Toà án tối cao đặt trụ sở tại Tokyo.

Thẩm quyền:  Theo Luật tổ chức Toà án thì các vụ tranh chấp thương mại có thể được đưa ra Toà án cấp thấp nhất có thẩm quyền về địa hạt – Toà giản lược – nếu tổng giá trị của vụ việc đưa ra xét xử không quá 900.000 yên (tương đương với 1,500 USD) (Điều 33, khoản 1(1) luật Tổ chức Toà án). Có 575 Toà án thuộc loại này ở Nhật. Nếu tổng giá  trị của vụ tranh chấp quá giới hạn xét xử của Toà giản lược thì các bên có thể lựa chọn đưa vụ việc ra giải quyết tại Toà án khu vực (Toà án quận). ở Nhật có 50 loại Toà án có thẩm quyền chung thuộc loại này. Tại Toà giản lược, thủ tục tranh tụng do một thẩm phán tiến hành công khai. Tại Toà Khu vực, tuỳ theo sự nghiêm trọng hay phức tạp của vụ án, mà lựa chọn 01 thẩm phán hoặc một Hội đồng thẩm phán gồm 03 thẩm phán để tiến hành vụ việc. Khoảng hơn 90% các vụ việc tại Toà khu vực do 01 thẩm phán giải quyết.  Tuy nhiên, hầu hết các vụ phúc thẩm được gửi lên từ Toà Giản lược đều được Hội đồng thẩm phán xét xử.

Cũng liên quan đến Toà án có thẩm quyền, Bộ luật tố tụng dân sự quy định nguyên đơn phải gửi đơn kiện đến toà án nơi cư trú hoặc thường trú của bị đơn. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ, trong các vụ việc đòi bồi thường thiệt hại, đơn kiện có thể được gửi tới toà án nơi xảy ra hành vi trái pháp luật, hoặc trong các vụ bất động sản, đơn kiện có thể được gửi tới toà án nơi có bất động sản đó.

Thủ tục tranh tụng:

Điều 133, khoản 1 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về nguyên tắc, một vụ việc phải được khởi kiện bằng việc nộp đơn kiện tại Toà án có thẩm quyền, trong đó nêu rõ mục đích và cơ sở của việc kiện. Thẩm phán được giao vụ việc (hoặc thẩm phán chủ toạ, nếu là vụ việc do Hội đồng thẩm phán giải quyết) có trách nhiệm kiểm tra đơn kiện, gửi giấy triệu tập cho đương sự và ấn định ngày tranh tụng. Thủ tục tranh tụng được tiến hành công khai tại Toà dưới sự chỉ đạo của thẩm phán chủ toạ. Nguyên đơn và bị đơn phải có mặt hoặc nhờ luật sư đại diện tại phiên toà để thực hiện các hành vi tố tụng như khởi kiện, khẳng định các tình tiết, đưa ra các chứng cứ v.v..Quyền hạn của người đại diện hợp pháp được pháp luật quy định. Nếu nguyên đơn hay bị đơn không có năng lực tố tụng, thì bắt buộc phải có người đại diện hợp pháp. Năng lực tố tụng và đại diện hợp pháp của một người không có năng lực tố tụng được quyết định, về nguyên tắc, theo các quy định của Bộ luật dân sự, các luật khác và quyết định của toà án (Điều 28).  Trong trường hợp đối với pháp nhân thì người đại diện hợp pháp có thể là giám đốc đại diện, giám đốc hay quản đốc (Điều 29) . Giống như người đại diện hợp pháp, một người được uỷ quyền hoàn toàn đại diện cho một bên tiến hành một vụ kiện, cũng như nhận lại những hành vi tố tụng của toà án và của phía bên kia, thông qua uỷ quyền  trong một vụ kiện, được gọi là là luật sư bào chữa. Phạm vi quyền hạn nhất định của bào chữa viên được quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nội dung chính của yêu cầu khiếu kiện phải rõ ràng và chính xác (vụ kiện đòi thực hiện một hành vi, đòi sự khẳng định, hoặc vụ kiện đòi xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp lý). Lý do khiếu kiện cần phải được trình bày rõ ràng trong đơn kiện, là tình tiết để xác định khiếu kiện theo thủ tục tố tụng. Bộ Luật tố tụng dân sự cũng quy định việc các bên phải chuẩn bị bản tóm tắt bằng văn bản (Điều 161, khoản 1). Các vấn đề được trình bày tóm tắt (điều 161, khoản 2) đã được cho phép đưa vào đơn kiện, ví dụ viêc đưa ra chứng cứ hay tình tiết làm sáng tỏ và biện luận cho các yêu cầu của nguyên đơn. đây là những vấn đề nội dung tự nguyện được trình bày trong đơn kiện. Bản tóm tắt nộp cho Toà án sẽ được tống đạt cho bên đương sự kia. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc tranh tụng miệng, để đảm bảo công bằng cho các bên đương sự, thì nội dung nêu tại bản tóm tắt bằng văn bản không trở thành tài liệu xét xử là căn cứ để ra bản án.  Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định rằng các vấn đề không được trình bày trong bản tóm tắt không thể được một bên trình bày khi tranh tụng miệng tại phiên xét xử chính thức, trừ khi có mặt của bên kia. Điều này cũng chủ yếu nhằm tránh các bên làm chậm trễ quá trình xét xử.

Đối với các vụ việc phức tạp,  Toà án có thể họp chuẩn bị trước khi tiến hành thủ tục tranh tụng. Đây là thủ tục trước xét xử, với sự có mặt của cả hai bên đương sự,  do một trong số các thẩm phán của hội đồng xét xử tiến hành (còn gọi là thẩm phán được uỷ nhiệm), nhằm mục đích tạo điều kiện cho quá trình xét xử được thuận lợi hơn. Tại buổi họp này, các bên đưa ra bằng chứng và lập luận làm rõ lời khẳng định của mình. Buổi họp này không cần thiết phải đưa ra công khai (có thể được tiến hành tại phòng hoà giải, hay phòng của thẩm phán), bởi lẽ Toà án không cần phải đưa ra phán quyết nào về lời khai của các bên đương sự.  Thẩm phán được uỷ nhiệm xét xử không được phép quyết định việc đưa ra chứng cứ hay xem xét chứng cứ văn bản.

Điều 170, khoản 6; Điều 165, Khoản 1 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định, sau khi kết thúc thủ tục chuẩn bị tranh tụng, Toà án và các bên có thể khẳng định các tình tiết cần phải được chứng minh thông qua việc xem xét chứng cứ sau này. Thẩm phán chủ toạ có thể yêu cầu các bên nộp tài liệu nêu tóm tắt kết quả thu xếp các vấn đề và chứng cứ khi kết thúc thủ tục chuẩn bị bằng văn bản, nếu thấy thích hợp (Điều 176, khoản 4; Điều 165, Khoản 2).

Sau khi các vấn đề cốt lõi giữa các bên đương sự đã được làm sáng tỏ ở giai đoạn chuẩn bị tranh tụng, thủ tục tranh tụng được chính thức tiến hành bằng việc Toà án xem xét chứng cứ để quyết định bản chất vụ kiện. Các bằng chứng được đưa ra Toà thông qua việc kiểm tra  nhân chứng, kiểm tra tài liệu, kiểm tra bằng chứng thực và bằng chứng giám định, cũng như kiểm tra chính các bên đương sự.  Điều 182 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy dịnh việc xem xét nhân chứng và bản thân các bên phải được tiến hành sau khi kết thúc việc thu xếp các vấn đề và chứng cứ.

Về cơ bản, việc xem xét chứng cứ được thực hiện theo kiến nghị của các bên. Toà án có toàn quyền quyết định việc chấp thuận đưa ra chứng cứ bằng quyết định chứng cứ. Điều 181, khoản 1 quy định Toà án có thể bác việc đưa ra chứng cứ, trong trường hợp Toà thấy không cần thiết. Với những chứng cứ quá hạn và việc đưa ra chứng cứ không hợp lệ, Toà án cũng có thể bác bỏ, theo quy định tại Điều 157, khoản 1.  Trong quá trình tìm hiểu sự thật, các thẩm phán không bị hạn chế bởi bất cứ đạo luật cụ thể nào về đánh giá chứng cứ. Vấn đề này thuộc quyền tự do của Toà án.Tuy nhiên, mặc dù thẩm phán hay Hội đồng thẩm phán có quyền quyết định việc chấp nhận hay bác bỏ chứng cứ, về nguyên tắc, Toà án không được phép đương nhiên lấy chứng cứ nếu chứng cứ không phải là do các bên đương sự đưa ra.

Việc kiểm tra nhân chứng được quy định tại các Điều 194 – 205 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nhân chứng có nghĩa vụ báo cáo tình tiết đã xảy ra ngoài tố tụng mà họ chứng kiến. Lời trình bày của nhân chứng được gọi là lời khai và việc xem xét chứng cứ dựa trên tư liệu chứng cứ này gọi là kiểm tra  nhân chứng. Mặc dù về nguyên tắc, nhân chứng có nghĩa vụ phải có mặt tại phiên toà, nhưng tuỳ từng trường hợp cụ thể, nếu không có sự phản đối của các bên,  thay vì kiểm tra nhân chứng, Toà án có thế yêu cầu nhân chứng trình bày bằng văn bản (Điều 205). Đây là một trong các ngoại lệ cho quá trình xét xử tại Toà Giản lược, đơn giản hơn nhiều so với thủ tục Tố tụng Dân sự chung.

Trong quá trình tranh tụng, thư ký Toà phải có mặt và ghi biên bản, bao gồm lời khẳng định và viện dẫn chứng cứ của các bên, lời khai của các nhân chứng, của chính các đương sự, cũng như của giám định viên.

Quá trình xét xử rút gọn được thực hiện tại Toà Giản lược, nhằm giúp các bên đạt được giải pháp một cách tự nguyện mà không phải qua các bước xét xử chính thức. Theo kiến nghị của các bên, thoả thuận có thể đạt được trước khi bắt đầu xét xử. Thoả thuận được ghi vào biên bản có hiệu lực như một phán quyết chính thức cuối cùng. Đây là cách thức mà các chủ nợ thường áp dụng để nhanh chóng xác lập quyền của mình. Thủ tục đơn giản là biện pháp toà án ra lệnh trả nợ ngay sau khi có đơn kiện của chủ nợ (trong trường hợp đơn kiện là đơn đòi trả tiền, chuyển tiền, chứng từ có thể chuyển nhượng hoặc các vật có giá trị khác); đồng thời ra thời hạn là 02 tuần để bên nợ thông báo về ý định tranh tụng của mình. Nếu trong thời  hạn này, bên nợ không thông báo về ý định tranh tụng của mình, thì Toà án có thể ra lệnh trả nợ cùng với việc tuyên bố thi hành tạm thời, dựa trên lệnh này, chủ nợ có thể cưỡng chế việc thi hành. Trái lại, nếu bên nợ không đồng ý với lệnh của Toà thì có thể đệ đơn khiếu nại trong thời hạn quy định. Khi đơn khiếu nại được thụ lý, vụ việc có thể được chuyển sang xét xử theo thủ tục pháp lý thông thường.

Một trong các cách xét xử theo thủ tục rút gọn là giải quyết các vụ việc thông qua thoả thuận và hoà giải. Ở Nhật, trong Tố tụng Dân sự không có hệ thống xét xử bồi thẩm, nhưng có một hệ thống xét xử thông qua Uỷ ban hoà giải hoặc uỷ viên xét xử với thủ tục tương tự như hệ thống bồi thẩm.  Thành phần của Uỷ viên xét xử mà Toà án lựa chọn để tham gia phiên toà và đưa ra phán xét một cách khách quan sau khi nghe các ý kiến,  là những người có uy tín và kiến thức rộng rãi. Họ cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hoà giải.

Các yêu cầu chính về mặt thủ tục là:

-Vụ kiện được khởi kiện hợp thức và khiếu kiện đã được tống đạt hợp thức;

-Các bên phải tồn tại và ít nhất 1 bên phải có đủ năng lực để trở thành một bên tham gia tố tụng.  

Nguyên tắc về mặt thủ tục: 

Những yêu cầu về mặt thủ tục sau đây là có tính bắt buộc để Toà án có thể ra quyết định về vấn đề chính. Nếu khiếu kiện không đáp ứng một trong những yêu cầu về thủ tục trong khi vấn đề chính của vụ khiếu kiện đang được xem xét, thì Toà có thể ra quyết định bác đơn kiện (quyết định về thủ tục) mà không cần tiếp tục xem xét đến vấn đề chính của vụ kiện.

-Vụ kiện được khởi kiện hợp thức và khiếu kiện đã được tống đạt hợp thức;

-Các bên phải tồn tại và ít nhất một bên phải có đủ năng lực để trở thành một bên tham gia tố tụng .

-Bị đơn là đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Nhật bản.

-Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ kiện

-Đơn kiện phải liên quan đến lợi ích hợp pháp và cần thiết phải có một quyết định của Toà án.

Hoà giải tại Toà án:

Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp rất được chú trọng tại Nhật bản. Luật hoà giải dân sự  của Nhật bản điều chỉnh sự thoả thuận tại Toà án giữa các bên trong các vấn đề dân sự và thương mại. Đây là một bước củng cố thoả thuận giải quyết tranh chấp thông qua sự nhượng bộ giữa các bên, đồng thời cũng là một hoạt động có tính thủ tục để tuyên bố và báo cáo kết quả trong một phiên toà. Việc hoà giải tại Toà án thông thường do uỷ ban hoà giải, do Toà án tổ chức và giám sát. Vì vậy, hoà giải tại Toà án khác với hoà giải ngoài Toà án. Hoà giải qua Toà cũng có thể được thực hiện trong thời gian chờ Toà xét xử (Điều 89). Toà án có thể gợi ý các bên hoà giải qua toà vào bất kỳ lúc nào trước khi toà xét xử. Điều 264 và Điều 265 quy định, về nguyên tắc, việc hoà giải qua toà phải được tuyên bố trực tiếp trong ngày tranh tụng, trong quá trình tố tụng trước tranh tụng và hoà giải vụ kiện. Khi các bên đã đạt được thoả thuận, và uỷ ban hoà giải quyết định rằng thoả thuận đó là phù hợp, thì thoả thuận được ghi vào biên bản, và có hiệu lực như một bản án của Toà án.  Biên bản hoà giải bao gồm việc thực hiện cụ thể, thời hạn thực hiện và phương thức thực hiện sẽ có hiệu lực thi hành.

Ra bản án:

Thủ tục tranh tụng tại Toà có thể chấm dứt với nhiều lý do và hình thức khác nhau:

-Trong trường hợp hoà giải tại Toà án không thành, và sau khi đã xem xét chứng cứ, nếu Toà án quyết định rằng đơn kiện của một trong các bên đương sự là đúng thì toà sẽ kết thúc thủ tục tranh tụng và ra quyết định. Quyết định được công bố tại phòng xử án dưới hình thức một phán quyết trong đó nêu rõ quá trình xét xử, các yếu tố của vụ án, lý do, ngày chấm dứt tranh tụng, các bên và đại diện pháp lý của họ, lời khẳng định của cả hai bên đương sự, ngày chấm dứt tranh tụng, lý do ra quyết định, toà án nơi ra bản án, thẩm phán ra bản án sẽ ký tên và đóng dấu vào bản án.  …

-Trong trường hợp phát hiện bán án trái pháp luật, Toà án có thể ra bản án thay thế trong vòng một tuần kể từ ngày tuyên án (Điều 256). Trong trường hợp này, Toà án có thể ra một bản án mới để thay đổi nội dung của bản án cũ. 

Hiệu lực của bản án: 

Khi một bên có quyền kháng cáo mà không nộp đơn xin kháng cáo trong thời hạn luật định, bản án sẽ có hiệu lực khi hết thời hạn đó.  Thậm chí ngay cả trước khi thời hạn kháng cáo hết, nếu bên có quyền kháng cáo (các bên có quyền kháng cáo tuỳ theo mức độ thua kiện) khước từ quyền này, bản án sẽ có hiệu lực cuối cùng khi quyền đó bị khước từ.

Điều 284và 313 quy định, trong trường hợp các bên đạt được thoả thuận không kháng cáo, bản án sẽ có hiệu lực ngay khi nó được Toà tuyên.  Trong trường hợp các bên đạt được thoả thuận từ bỏ kháng cáo thì bản án sẽ có hiệu lực khi thời hạn nộp kháng cáo hết.

Ngược lại, khi việc kháng cáo hợp pháp được thực hiện trong thời hạn kháng cáo, bản án sẽ chưa có hiệu lực. Cho đến khi đơn kháng cáo bị bác do không hợp lý thông qua một quyết định thì bản án vẫn bị hoãn và chưa có hiệu lực. Bản án gốc sẽ có hiệu lực vào thời điểm khi quyết định bác đơn kháng cáo có hiệu lực.

Quyết định của toà Giản lược có thể được khiếu nại lên Toà án Khu vực, và quyết định phúc thẩm của Toà án khu vực có thể được khiếu nại lên Toà án Cấp cao có thẩm quyền. Quyết định của Toà án Cấp cao có thể được khiếu nại tiếp lên Toà án Tối cao nếu có liên quan đến các vấn đề Hiến định. Tại Toà án tối cao, các vụ việc thông thường do 1 Hội đồng nhỏ bao gồm 5 thẩm phán của Toà án tối cao. Tuy nhiên, Luật tổ chức Toà án quy định: các vụ việc liên quan đến Hiến pháp sẽ do Hội đồng lớn bao gồm  tất cả các thẩm phán của Toà án tối cao, tức là 15 thẩm phán.

2. Giải quyết tranh chấp ngoài Toà án:

a. Hoà giải tư (ngoài Toà án)

Hoà giải tư (ngoài Toà án) chia thành hoà giải theo vụ việc và hoà giải thiết chế. Việc giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải tư có hiệu lực như một hợp đồng theo Điều 696 của Bộ Luật Dân sự. Để kết quả hoà giải tư này có hiệu lực như một bản án, nó phải được gửi đến Toà Giản lược để ghi vào Biên bản của Toà án và bằng cách đó, thoả thuận hoà giải sẽ có hiệu lực thi hành. Để làm cho những quyết định hoà giải này có hiệu lực quốc tế, nhiều khi nó được chuyển tải thành quyết định trọng tài tuỳ thuộc vào điều khoản giải quyết tranh chấp. Hoà giải vụ việc không được coi là biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp tại Nhật bản bởi lẽ các bên không dễ dàng tìm được hoà giải viên phù hợp đề tiến hành một việc hoà giải có hiệu quả.

Chủ yếu do yếu tố bao trùm của thực tiễn pháp lý, bao gồm cả giải quyết tranh chấp do các luật sư tiến hành theo Điều 72 của luật về luật sư,  các thiết chế tư giải quyết tranh chấp ngoài Toà án không được phát triển tại Nhật. Ngoại lệ chỉ có Công ty vận tải biển, và Hiệp hội trọng tài Nhật bản. Cả hai thiết chế này có chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại, và cho đến giờ vẫn không được coi là đất của luật sư.  Vì vậy, trung tâm trọng tài của hội luật gia mới đây cũng đã được các luật sư thành lập để mở rộng phạm vi giải quyết tranh chấp ngoài Toà án nhằm tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của công dân.

Các thiết chế hoà giải:

Công ty vận tải biển (JSE), và Hiệp hội trọng tài Nhật bản (JCAA) cung cấp không chỉ dịch vụ trọng tài, mà còn dịch vụ cần thiết để  điều hành hoà giải,  các tranh chấp trong nước và quốc tế theo quy chế về hoà giải. Theo quy chế JSSE và JCAA, các bên có thể chỉ định các hoà giải viên theo thoả thuận giữa họ, còn JSE và JCAA có thể chỉ định hoà giải viên nếu các bên đề nghị như vậy hoặc trong trường hợp các bên không  tự  thoả thuận được.

Nhiệm vụ của hoà giải viên cũng như  ảnh hưởng pháp lý của việc hoà giải cũng tương tự như trường hợp hoà giải vụ việc ngoại trừ việc hoà giải thiết chế được điều chỉnh bởi quy chế riêng của tổ chức mình. JSE cung cấp dịch vụ hoà giải, độc lập với dịch vụ trọng tài. Đó là Quy chế hoà giải năm 1992 của JSE. Quá trình tiến hành hoà giải không nhất thiết phải được tiến hành sau khi trọng tài hay Toà án đã thụ lý vụ án, nhằm mục địch làm cho quá trình này tiến hành hiệu quả  theo quy định tại Điều 19 của Quy chế hoà giải. Điều 22 của Quy chế thiết kế tương tự như Điều 20 của Quy chế hoà giải của Uỷ ban Thương mại quốc tế, cấm các bên dựa vào/ hoặc chia sẻ những chứng cứ có được trong giai đoạn hoà giải tại trọng tài hay Toà án, bất kể việc quá trình tố tụng này liên quan đến quá trình hoà giải.

Theo quy định tại Điều 16 của Quy chế, thoả thuận giải quyết tranh chấp có thể thiết kế thành quyết định trọng tài nhằm mục đích làm cho thoả thuận này có tính thi hành (kể cả ở nước ngoài). Như vậy, sau khi đã đạt được thoả thuận hoà giải, các bên tiến hành thủ tục trọng tài  bằng cách chỉ định hoà giải viên với tư cách là trọng tài viên, và trọng tài viên này sẽ tuyên bố quyết định trọng tài dựa trên các điều khoản đã có của thoả thuận hoà giải. Tuy nhiên, thủ tục hoà giải này không được sử dụng nhiều lắm bởi lẽ nó không được công chúng biết đến nhiều.  Một lý do nữa là trọng tài JSE có thể tiến hành hoà giải vào bất kỳ thời điểm nào theo quy định tại Điều 28 của Quy chế trọng tài, và do hầu hết các vụ tranh chấp giải quyết bằng phương thức trọng tài đều thành công.

JCAA có Quy chế hoà giải thương mại lâu đời, với vẻn vẹn chỉ 05 điều, và Quy chế này hầu như không được sử dụng.  Điều này không chỉ bởi lẽ chính sách chủ yếu của JCAA  là thiên về phát triển trọng tài, mà còn bởi lẽ việc hoà giải thông thường được tiến hành trong quá trình giải quyết bằng trọng tài, có sự nhất trí của các bên theo quy định tại Điều 39 của Quy chế trọng tài

Thực tế này đã được các nhà hoạt động thực tiễn của hệ thống pháp luật chung đặt câu hỏi, đặc biệt là khi đề cập đến vấn đề nền tảng của hệ thống tư pháp. Một số học  giả cho rằng, mặc dù  Quy chế JCAA không có điều khoản quy định về những bảo đảm nhất định cho công lý, vẫn có thể hiểu rằng những cuộc gặp cá nhân (ex parte) cho việc hoà giải thực tế (de facto) cần phải được tiến hành trên cơ sở có sự đồng ý của cả hai bên. Tuy nhiên những luật sư hành nghề của Nhật bản ngày càng thận trọng hơn với nỗ lực giải quyết tranh  chấp – nhất là khi một hay hai bên tranh chấp đều từ nước có hệ thống pháp luật án lệ.  Cũng rất thú vị rằng, mặt khác, nhiều luật sư hành nghề nước ngoài chấp nhận cơ chế hoà giải của  trọng tài JCAA như một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án. Tuy nhiên, nhiều học giả Nhật cũng rất băn khoăn về  tác động của yếu tố văn hoá tới hiệu quả của phương thức hoà giải. Rõ ràng rằng không có một quan niệm và nhận thức chung về giá trị văn hoá, thì rất khó đạt được thoả thuận hay hoà giải. Vì vậy, việc trang bị kiến thức và năng lực hoà giải cho các hoà giải.

TƯ VẤN

Nếu bạn cần được tư vấn hãy gọi 1900633725

Nếu bạn yêu cầu dịch vụ, hãy gọi
1900633725

Hoặc viết thư tới
contact@luatthaian.vn

Khách hàng

  Gọi 1900633725