Câu hỏi: Tôi đã và đang giữ chức vụ giám đốc tại công ty cổ phần X. Do hoạt động kinh doanh thua lỗ nên công ty tiến hành thủ tục phá sản.
Xin Luật sư giải đáp cho tôi biết trường hợp có công ty cổ phần N mời tôi về làm việc và giữ chức vụ giám đốc có được hay không? Xin cảm ơn!
(Anh Dương Văn Nam – Phủ Lý, Hà Nam)
Xem thêm:
>> Thay đổi đăng ký kinh doanh
>> Dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên
>> Dịch vụ giải quyết tranh chấp doanh nghiệp

Trả lời:
Vấn đề của anh, Luật sư Luật Thái An tư vấn như sau:
Theo quy định Luật phá sản: "Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản".
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty thì:
“Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
Tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc áp dụng theo quy định tại Điều 57 của Luật này.
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác”.
Theo đó, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác.
Như vậy, với trường hợp của anh, dù công ty cổ phần X đã phá sản nhưng theo quy định của pháp luật thì anh sẽ không được làm quản lý công ty cổ phần N vì không đáp ứng điều kiện về thời hạn: "từ một đến ba năm" kể từ ngày công ty cổ phần X tuyên bố phá sản.
Liên hệ ngay chúng tôi để được trợ giúp pháp lý kịp thời!
CÔNG TY LUẬT THÁI AN
(Anh Dương Văn Nam – Phủ Lý, Hà Nam)
Xem thêm:
>> Thay đổi đăng ký kinh doanh
>> Dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên
>> Dịch vụ giải quyết tranh chấp doanh nghiệp

Trả lời:
Vấn đề của anh, Luật sư Luật Thái An tư vấn như sau:
Theo quy định Luật phá sản: "Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản".
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty thì:
“Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
Tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc áp dụng theo quy định tại Điều 57 của Luật này.
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác”.
Theo đó, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác.
Như vậy, với trường hợp của anh, dù công ty cổ phần X đã phá sản nhưng theo quy định của pháp luật thì anh sẽ không được làm quản lý công ty cổ phần N vì không đáp ứng điều kiện về thời hạn: "từ một đến ba năm" kể từ ngày công ty cổ phần X tuyên bố phá sản.
Liên hệ ngay chúng tôi để được trợ giúp pháp lý kịp thời!
CÔNG TY LUẬT THÁI AN
Đối tác pháp lý tin cậy
