Câu hỏi: Xin hỏi một người mua hóa đơn giá trị gia tăng để lập hồ sơ khống chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT hoặc lập chứng từ khống việc mua nguyên vật liệu để chiếm đoạt tiền của tổ chức, nơi họ làm việc thì bị xử lý như thế nào?
Lan Anh, Ba Đình, Hà Nội.
Xem thêm các tư vấn luật sau:
>> Tội vô ý làm chết người
>> Tội giao cấu với trẻ em
>> Bị cáo có thể vắng mặt tại phiên tòa xét xử

Trả lời:
Theo mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 23-11-2004 của Bộ Công an, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự với những người có hành vi mua, bán, sử dụng trái phép hóa đơn giá trị gia tăng như sau:
1. Người nào có hành vi mua hoá đơn giá trị gia tăng và sử dụng trái phép hoá đơn đó để lập hồ sơ khống chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 139 của Bộ luật hình sự: a. Tiền hoàn thuế giá trị gia tăng từ năm trăm nghìn đồng trở lên; b. Tiền hoàn thuế giá trị gia tăng dưới năm trăm nghìn đồng, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưngchưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
2. Người nào mua hoá đơn giá trị gia tăng và sử dụng trái phép hoá đơn đó để lập chứng từ khống về việc mua nguyên liệu, nhiên vật liệu, vật tư hàng hoá ... chiếm đoạt tiền của cơ quan, tổ chức hoặc người khác thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau: a. Nếu là người có chức vụ, tức là người do bổ nhiệm,do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ và đã lợi dụng chức vụ,quyền hạn chiếm đoạt tiền của cơ quan, tổ chức mà mình có trách nhiệm quảnlý thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội tham ô tài sản" theo Điều 278 của Bộ luật hình sự:
a.1. Tiền bị chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên; a.2. Tiền bị chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng,nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục A Chương XXI của Bộ luật hình sự nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. b. Nếu là người khác, không thuộc trường hợp được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 mục 1 này mà tiền chiếm đoạt thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 139 của Bộ luật hình sự;
b.1. Tiền chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên;. b.2. Tiền chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Vì bạn không nêu cụ thể mức độ vi phạm nên chúng tôi đã nêu ra tất cả các trường hợp liên quan để bạn có thể so sánh và áp dụng.
Liên hệ ngay để được giải đáp pháp luật nhanh nhất!
CÔNG TY LUẬT THÁI AN
Đối tác pháp lý tin cậy
