Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại rút đơn yêu cầu khởi kiện ?

Hỏi đáp luật Hình sự 3688 Lượt xem

Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại rút đơn yêu cầu khởi kiện ?

Nhiều trường hợp, người bị hại sau khi có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì một thời gian sau lại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào người bị hại rút đơn yêu cầu thì vụ án đều bị đình chỉ. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, hày cùng Luật Thái An tìm hiểu thông qua tình huống sau:

Xin chào công ty Luật Thái An, tôi đang có thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn như sau: Cháu tôi năm nay 22 tuổi gây xích mích và đánh nhau với 1 thanh niên làng bên, gia đình họ đã làm đơn khởi kiện cháu tôi, khi xảy ra chuyện thì gia đình chúng tôi có vào bênh viên thăm người thanh niên đó, nhưng vì con họ bị thương nặng nên họ quyết định làm đơn khởi kiện ra tòa về tội cố ý gây thương tích, khi giám định thì tỷ lệ thương tật của thanh niên đó là 48%. Gia đình chúng tôi có sang thương lượng về mức bồi thường để họ rút đơn yêu cầu khởi kiện, sau khi thương lượng thành công họ đã đồng ý rút đơn khởi kiện, vậy tôi muốn hỏi luật sư, nếu họ rút đơn khởi kiện thì cháu tôi còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không? Rất mong luật sư tư vấn giúp! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Thái An. Với nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bố dung năm 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Như vậy, với trường hợp của cháu bạn, do người thanh niên kia khi giám định sức khỏe được xác định tỷ lệ thương tật là 48%  cho nên, hành vi của cháu bạn đã cấu thành tội cố ý gây thương tích được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 104 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề rút đơn khởi tố của người thanh niên kia, thì theo quy định của bộ luật hình sự, không phải trường hợp nào khi người bị hại có yêu cầu rút đơn khởi tố thì đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp luật chỉ ghi nhận cách trường hợp sau đây được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố đó là:

+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

+  Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

+ Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

Các trường hợp này được ghi nhận tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, như vậy, xét với trường hợp của cháu bạn, do cháu bạn bị khởi tố theo khoản 2, Điều 104 Bộ luật hình sự không thuộc các trường hợp trên, nên dù người bị hại có rút đơn khởi tố thì cháu bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Nếu còn vướng mắc, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn của chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

Công ty Luật Thái An

Đối tác pháp lý đáng tin cậy. 

TƯ VẤN

Nếu bạn cần được tư vấn hãy gọi 1900633725

Nếu bạn yêu cầu dịch vụ, hãy gọi
1900633725

Hoặc viết thư tới
contact@luatthaian.vn

Khách hàng

  Gọi 1900633725